Image

Loại rau xinh xắn nhi nhí này mỗi lần xuất hiện lại làm bàn ăn trông rất vui vẻ.

Mình biết là thật ra nó không được sạch lắm nhưng nhìn bên ngoài thì bọn nó rất tinh tươm, ngon lành. Hồi Sao Nhỏ còn bé, món này hay được cho vào súp và cháo cho anh bạn nhỏ. Sau này nó được dùng làm salad chiều chủ nhật vài lần, rồi mình quên bẵng mất. Gần đây mới nhớ ra nó, cộng với các thông tin ngon – bổ – rẻ nên món này trở lại thường xuyên hơn trong nhà mình.

Mầm cải ngọt không bị hăng, làm salad rất nhanh. Chỉ cần trộn với nước dấm + đường, thêm vài cọng cà rốt thái chỉ, rắc lạc rang giã dối là xong. Khi nào có thời gian tôi thêm một ít tôm tươi bóc vỏ, hoặc bắp bò xào, nhưng thật ra tôi thích salad “chay” hơn, vì vị nó nhẹ nhàng và thuần hơn.

Mầm củ cải thân to hơn và vị cay, đôi khi cay xè, với tôi rất khó ăn. Nhưng nếu xào sơ với trứng thì lại không đến nỗi, tuy nhiên không giữ được hình dáng xinh đẹp của những sợi rau.

Tháng Ba. Thanh âm của từ này tự nó đã mang gió ấm của mùa xuân thực sự, của những mầm xanh bật nở, của hơi nắng nhắc nhở mùa hè đang sắp đến.

Hà Nội mùa này rất nhiều sắc thái cây cỏ. Chỉ một đoạn đường Thanh Niên mà có đủ sắc lục sẫm của những loại cây quanh năm không thay lá, màu xanh non sáng rực bất ngờ của đám lá mới, màu nâu gầy guộc của những cành đông ra chồi muộn, màu trắng trong veo như một giấc mơ của những tán hoa sưa và sắc dịu dàng của hoa ban tím.

Hai mẹ con đứng bên khung cửa sổ mở rộng, nhìn ra Hồ Tây và trò chuyện như một đôi bạn thân. Xa tít bờ bên kia là công ty cũ của mẹ, phía này có một con tàu cũ đang đứng im. Mấy con chim nhỏ nhảy trên lan can ra chiều vui sướng.

Sáng nay nóng, chuẩn bị cho đợt gió mùa về ban trưa. Cửa sổ mở nên càng giữa buổi càng nóng và ẩm hơn. Tiếng nhạc không dứt cộng tiếng xe dưới đường khiến người ta đâm ra uể oải. Nhưng rồi trời xầm xì dần, rồi chỉ cần cơn gió mùa đông bắc thổi một lúc là thấy dễ thở hơn, không khí trở nên khô và dễ chịu, như là thay đổi hai bản nhạc. Hẳn là hoa sưa đang rơi như mưa trên những phố kia.

Trưa nay tụ tập ở nhà bạn. Thỉnh thoảng gặp nhau mới thấy thật sự nhiều thời gian đã trôi. Giữa mấy đứa bạn bè chúng mình đã chen thêm mấy đứa trẻ. Tới khi bọn trẻ ngủ trưa, không ầm ĩ nô đùa nữa mới trở về ngày xưa một chút, hồi bọn mình học hành ở nhà ấy thâu đêm, hồi chẳng bận gì cả nhưng vẫn tụ tập buôn chuyện. Như những màu sắc đã vẽ xong không pha lại được nữa, chỉ là nhớ êm êm thôi, mọi thứ bây giờ thật là khác.

Ánh sáng tháng Ba được lọc qua lần cửa chớp gỗ sơn trắng, hắt nhè nhẹ vào phòng. Lúc nào tôi cũng yêu thứ ánh sáng êm ái này.

Ông ngoại mất ngày mùng 4 Tết. Mẹ và cậu mợ chú dì đang ở quê hết cả, hai chị em tôi gọi cho nhau khóc chẳng nói được gì.

Mấy chục năm rồi chúng tôi quen có ông bà ở quê. Bà hay ngồi trong nhà, cái giường của bà thơm thơm, lỉnh kỉnh mấy thứ khăn vấn, kẹp tóc, cái hòm của bà đầy bánh kẹo để dành. Ông lúc nào cũng thấy lúi húi ở vườn, hay xắn quần lội cầu ao, hoặc đạp xe đi phát lương cho các cụ hưu trí. Ông bà gốc nông dân chân chất, suy nghĩ quanh quẩn chỉ con cháu, họ hàng, láng giềng, tiền nong, nhưng ông bà rất thương con cháu theo kiểu của mình. Thằng cháu nội lớn đùng đi ra nắng vẫn bị bà nhắc đội mũ. Bà xuýt xoa thương mẹ tôi vất vả, hay dúi cho vài trăm nghìn mà với người ở quê là to lắm. Ông thì hay kể chuyện ngày xưa, hồi ông đi bộ đội thiếu thốn trăm bề, hồi ông đạp xe chở gạo ra tiếp tế cho mẹ tôi đang học tận Hà Nội. Lần nào về cũng sẽ có một buổi tối tôi ngồi cạnh ông hầu chuyện. Lần nào ông cũng kể về “cái Tùng Cương” nó chế bài thơ: “Con chim nó hót trên cành – Nó kêu vất vả cái ngành giao thông – Nó kêu em bé rất ngoan – Để ông xuống huyện mua giò em ăn”, chuyện “cái Tùng Ngọc” sinh vào giao thừa ở trạm y tế xã, “cái Huyền” cai sữa bố mẹ gửi về cho ông chăm. Mà lần nào nghe cũng thích.

Có điều khi có gia đình rồi, chúng tôi chỉ đi về trong ngày, cứ vội vội vàng vàng, mải lo cho bọn trẻ mà chẳng mấy chốc đã đến lúc lên xe về. Thế là chúng tôi không gần ông như trước nữa. Vậy đấy. Vẫn biết khi yêu ai hãy tận dụng từng giờ bên người đó, mà lấn bấn tôi vẫn quên mất, vẫn quen luôn có ông bà ở đó. Bây giờ tiếc nuối cũng muộn rồi.

Ông cả đời vất vả, việc vườn tược, việc làng xóm, nhất là việc chăm bà tôi sức yếu chỉ quanh quẩn trong nhà. Ông chăm bà từng li từng tí, không nề hà việc gì cả. Đến khi bà mất, ông cũng chưa được nghỉ ngơi mà lại mắc bệnh hiểm nghèo. Bệnh tật đúng là chẳng chừa ai. Ông sống điều độ, khỏe mạnh, tám chục năm luôn chân luôn tay làm việc, thế mà cái bệnh nan y bỗng nhiên lại tới hành ông.

Ông mất. Ngôi nhà không có bóng dáng ông đã khác hẳn. Không còn gọn gàng tinh tươm nữa. Vắng mùi thuốc lào. Vắng tiếng ông quen thuộc. Chỉ còn cái áo khoác màu bộ đội của ông treo cạnh cửa sổ. Không có ông bà, nơi này không còn giống quê ngoại chúng tôi quen về nữa.

Buổi sáng ngày đưa ông đi, trời mưa phùn ướt sân, ướt con đường dài đằng đẵng ra nghĩa trang làng. Mẹ khóc, cậu khóc, dì khóc. Nỗi đau xót lớn nhất đời là khi mồ côi. Cơn mơ sợ hãi nhất thời thơ ấu là không còn thấy cha mẹ ở bên nữa.

Và sợi dây thắm thiết cuối cùng nối tôi với quê ngoại cũng đã ngắt lìa.

Nghĩa là Tết đến gần lắm rồi. Nghĩ đến Tết tôi thấy ngại vô cùng. Tôi lười, ưa hưởng thụ và rất ngại đám đông. Tôi không thích những ngày dài cắm mặt vào bếp chuẩn bị các món ăn cho mấy ngày Tết. Tôi ngại nhà đông người, rót nước, rửa chén, rồi lại rót nước, rửa chén mấy ngày liền. Ngại những bữa ăn tất niên và tân niên mà mình luôn phải rửa bát. Tôi không thích nhìn thấy những hộp bánh kẹo giông giống nhau ở mỗi nhà, đặc biệt nếu nhìn thấy mứt thì ngấy không muốn nhìn lại luôn. Tôi thích như hồi bé hai chị em được dậy muộn và ngủ muộn, tích trữ lương thực để ăn rả rích, nằm dài đọc sách cả ngày, được tiền mừng tuổi đếm đi đếm lại. Tôi ngại khi thấy những người thường ngày chẳng ưa gì nhau, đến Tết lại xúng xính chúc nhau những điều tốt đẹp. Tóm lại, khi lớn lên thì dịp Tết với tôi dường như trở nên cũ kỹ, nhàm chán và áp lực.

Nhưng, sáng nay đi làm thấy người ta bán hoa đào, thì cảm giác hào hứng với Tết lại trở về. Năm nay hoa đào xuống phố muộn, hình như do trời lạnh và cũng do kinh tế khó khăn, mọi người chờ thưởng rồi mới có tiền sắm Tết. Dù gì đi nữa, cái màu hồng rưng rưng quen thuộc cũng đã về.

Ngày Tết đường phố lúc nào cũng đông bất kể giờ giấc, mọi người nháo nhác thấy rõ. Chính vì thế mới thấy được sự khác biệt giữa trước Tết và ngày đầu năm mới. Sớm mùng Một đường phố vắng tanh, quang đãng, thanh bình như trong những bức ảnh Hà Nội cũ. Bận rộn tíu tít trước Tết mới thấy quý cái thở phào nhẹ nhõm vào chiều Ba mươi khi đã xong hết hàng trăm việc có tên cũng như không tên. Nhớ nhung thuở bé sung sướng mới thấy giờ mình đầy trách nhiệm và lớn thế nào.

Ngày Tết, tôi hạnh phúc nhất là khi có bố mẹ. Ngày xưa sáng mùng Một bố mẹ luôn dậy sớm hơn bọn tôi, ngồi đợi dưới nhà. Khi hai chị em xuống, bố sẽ mừng tuổi, khoản lì xì đầu tiên trong năm mới của hai chị em. Cả nhà cùng ngồi xem chương trình Tết, bọn tôi luôn ghi lại lịch phim ảnh để lúc nào không đọc sách hay ngủ thì xem phim. Bây giờ có gia đình, tôi đón giao thừa và sáng mùng Một với bố mẹ chồng. Về đây tôi mới không đi chơi cùng bạn bè đêm giao thừa nữa mà tham gia thắp hương, đứng xuýt xoa trong cái lạnh căm căm dày đặc hương trầm, mắt cay xè vì thức khuya và nghe tiếng pháo hoa xì – đùng xa xa. Rồi sau đó bố hạ con gà luộc xuống, cả nhà xé ăn với uống rượu vang. Rồi sáng sớm chúng tôi mừng tuổi ông bà, ông bà mừng tuổi cháu nội. Tôi rất thích không khí này. Bố mẹ tôi rất ít biểu lộ tình cảm bằng lời nói, ngược với bố mẹ chồng. Tôi thấy quen và thích cách có thể nói ra dễ dàng: “Bố yêu con”, “Mẹ yêu con”, “Cảm ơn con” vì những giây phút đó rất tình cảm.

Tết có nhiều thứ đáng chán, nhưng luôn được bù lại bằng đêm giao thừa với sáng mùng Một, và bây giờ là bằng cả những giờ nghỉ ngơi bên con trai. Thế mà tôi lại quên mất, lại chán ngán cho đến khi gặp cái xe đạp hồng rực màu hoa đào này.

Mãi bây giờ tôi mới đọc “Ông già và biển cả”, và choáng ngợp. Bởi sự hùng vĩ kỳ diệu của tự nhiên đã được diễn tả thành lời. Có lẽ không bao giờ tôi có thể quên cái ấn tượng trước cảnh con cá kiếm kiêu hùng “mang trong mình cái chết, phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực”.

Tôi đọc cuốn này sau khi xem phim “Cuộc đời của Pi” 1 tuần. Không bàn về những điều khác thì bộ phim cũng có những cảnh biển xúc động, lúc đẹp đẽ lúc khắc nghiệt. Có mặt biển mênh mông dưới vòm trời sao trĩu nặng và có bão tố nổi cơn thịnh nộ mà con người không thể chống đỡ nổi.

Lúc nào tôi cũng yêu biển. Tôi có thể đứng ngắm mãi màu lam sẫm trải ra mênh mông kia, những khối ánh sáng thay đổi theo mặt trời, đứng mãi, nhắm mắt mà nghe tiếng ầm ào sâu thẳm và hít thở hương vị mặn chát, đón những bụi nước li ti phả vào mặt từ những con sóng vỗ bờ. Có một lần tôi dậy thật sớm, ngồi co ro trong bóng tối chờ mặt trời mọc. Bãi biển vắng tanh nhưng những con tàu đánh cá lại đang làm việc rất hối hả, ánh đèn thay nhau lóe lên trên nền xanh sẫm. Bắt đầu trên đường chân trời là một chấm tròn sáng rực, nhỏ nhoi trong nháy mắt rồi thình lình kéo dài thành muôn vàn vệt sáng. Biển đã thức dậy. Bao nhiêu nghìn năm rồi, vẫn là sóng, nước, gió, cát, biển vẫn vẹn nguyên vẻ đẹp giản dị mà vĩ đại ấy, giữ trong lòng sâu cả nỗi dịu dàng lẫn những cơn bão cuồng loạn.

Without your love, it’s a honky-tonk parade

“It’s only a paper moon” (artist Ella Fitzgerald – 1933)

Cuốn “Biên niên ký chim vặn dây cót” làm tôi nản đọc Haruki Murakami quá. Cảm giác như bác này lạm dụng yếu tố siêu thực, đoạn kết trừu tượng làm tôi mệt mỏi vô cùng.

Chính vì thế cầm tập 2 “1Q84” trên tay không thấy hứng thú, vì dường như cách xây dựng tình huống, nhân vật cũng hoang đường, hứa hẹn cái kết không có lý và khó hiểu. Nhưng đọc vài trang tôi lại sa chân vào không dứt ra được. Vẫn là một thế giới hỗn loạn không bình thường, với những nội tâm sâu hun hút, những khoảnh khắc nhanh như một loáng chớp của ánh sáng và bóng tối. Nhiều đoạn nhỏ phải đọc đi đọc lại. Nhiều hình ảnh chân thực đến rung động, như là đang hiển hiện trước mắt vậy.

Câu hát “Without your love, it’s a honky-tonk parade” xuất hiện trong một chương khá ám ảnh có nhắc đến tình yêu. Tình yêu trong truyện của Murakami mãnh liệt và khác thường, tôi luôn mơ hồ tự hỏi liệu những tình yêu như thế có thể tồn tại. Nhưng ít nhất tôi luôn khâm phục cách những nhân vật diễn đạt những suy nghĩ trong tim mình. Xúc cảm nếu không bày tỏ thì thật là vô nghĩa.

Mưa dầm gió bấc đã ba hôm nay, trời đất xám xịt xấu vô cùng. Tình cờ đúng vào mấy ngày này tôi bắt đầu đọc “Biên niên ký chim vặn dây cót”. Một câu chuyện bắt đầu và diễn biến có vẻ ảm đạm lê thê, rất giống với cái thời tiết này. Mãi mới hết một ngày của nhân vật chính. Anh này thất nghiệp, tạm thời ở nhà nội trợ cho vợ đi làm. Rồi sau khi con mèo nhà anh ta biến mất, anh ta bắt đầu gặp những người kỳ quặc, trong những tình huống quái gở. Làm sao lại có từng đấy người kỳ lạ mà gặp được nhau, tập trung trong một không gian nhỏ và thời gian ngắn ngủi như vậy, tôi nghĩ cả đời tôi cho đến giờ, chắc cùng lắm quen được vài ba người kì lạ. Hay là bên trong cái vỏ bình thường của nhiều người ngoài kia là một cuộc đời khác thường?

Nhưng tôi đã quen với giọng văn và cách xây dựng câu chuyện của bác nhà văn này nên vẫn tìm thấy hứng thú đọc tiếp. Phải khá chậm rãi, đọc kỹ các câu chữ, dõi theo đến từng động tác của nhân vật. Nếu không tôi có thể bỏ qua những quan sát tinh tế rất nhỏ. Có hay không trạng thái chuyển tiếp giữa trời mưa và trời tạnh. Cảm giác cỏ lướt dưới đế giày tennis khi nhảy qua một bờ tường xuống đất. Hay khi nhắm mắt chừng mười phút sẽ thấy được vô vàn sắc độ khác nhau của màu xám, … Nếu không vì những chi tiết như thế chắc tôi đã bỏ dở cuốn sách. Hoặc có thể nhiều hình ảnh trong sách hết sức giống màu sắc ngoài trời kia, nên tôi dễ dàng chìm đắm vào nó và có cảm giác những nhân vật và tình huống đó không còn kì quặc nữa.

Đội mưa đi gặp bạn hiền, cùng bạn ngồi sau những chấn song gỗ ngắm phố chật chội, sự ấm áp làm mờ nhạt hết những rét mướt. Tôi lại nhớ đến cuốn sách đang đọc. Đôi khi có những thứ giống như cuốn sách này, giống như ngày hôm nay. Tuy hai thứ không hẳn là giống nhau nhưng chúng mang cho tôi cảm giác rằng, khi di chuyển vào đúng kênh, đúng thời điểm, thì màu xám lan tràn kia bỗng trở nên mềm mại và hòa lẫn, còn những đốm màu nhỏ cứ sáng mãi lên.

Cô Hạnh sửa quần bò

Cô hơi trung trung tuổi, người đậm, giản dị, mới gặp có vẻ hơi khó tính một chút. Có lẽ do công việc của cô lặp đi lặp lại bao nhiêu năm nay trên căn gác nhỏ xíu phố Bùi Thị Xuân nên vẻ ngoài của cô không được xởi lởi. Tôi biết chỗ này là do bạn Hạnh chỉ, hồi đó còn sinh viên, gọi cô là cô. Bây giờ lớn hơn, đổi sang gọi là chị. (Kinh nghiệm cho thấy, nếu phải đi trao đổi mua bán, thì khi cần “bắt nạt” ai đó, tôi gọi là em, với phụ nữ hơn tuổi, dù hơn nhiều hay ít, cứ gọi là chị thì mọi việc êm xuôi hơn).

Thế là gần chục năm nay, tôi chỉ sửa quần bò ở chỗ cô vì cô sửa rất đẹp, đường kim mũi chỉ sáng sủa, cẩn thận, làm xong cô còn là cho phẳng phiu. Cắt gấu, xuống gấu, bóp bụng, có khi thu nhỏ cả cái quần vì tôi quá thích kiểu quần mà bị hết size nên vẫn cố mua rồi mang đến chỗ cô. Khi nhận lại lúc nào cũng vừa, vui như mua được cái quần mới.

Muốn lên được nhà cô, phải để xe dưới đường. Nếu gặp bà cụ mẹ chồng cô ngồi nghỉ trên vỉa hè thì bà sẽ trông xe cho. Đi qua một hành lang hẹp tối om, rồi bỏ dép để leo lên một cầu thang gỗ màu nâu sẫm đã cũ. Kiểu chung sống đặc trưng của phố cổ phố cũ Hà Nội – một ngôi nhà chia năm xẻ bảy, cơi nới cho nhiều hộ, mặt tiền tầng 1 cho thuê làm cửa hàng. Có những căn phòng phía trong hoàn toàn không có ánh sáng tự nhiên. Bếp chung ở ngay chiếu nghỉ cầu thang. Mỗi lần đến những căn nhà kiểu này, tôi lại nghĩ đến việc những người sống ở đây đã lựa chọn chen chúc trong một ngôi nhà với tiện nghi sống rất thấp nhưng vị trí lại ở khu trung tâm, và họ sống yên phận bao nhiêu năm với lựa chọn của mình, không có ý định chuyển đi.

Gia đình cô Hạnh cũng thế. Căn phòng của cô chú bao lâu nay không thay đổi gì cả, nghề nghiệp cũng không mở rộng thêm. Không thành cửa tiệm, không sửa thêm các mặt hàng khác, chỉ mỗi cái biển viết tay nhỏ nhỏ ghi sửa quần bò treo dưới cửa tầng 1, một máy khâu, một cầu là và một ngăn tủ để hàng. Giá cả thậm chí còn rất rẻ. Cách đây 2 năm, khi giá cắt gấu quần bò ở khu Khương Trung “nhà quê” là 20 nghìn, thì cô mới tăng từ 7000 hồi tôi còn sinh viên lên 8000 – 9000 gì đó. Tôi kể với cô là ở chỗ tôi đắt vậy đấy, mà cắt còn xấu cơ, và bảo cô tăng giá lên đi, chẳng tội gì. Bây giờ là 12000. Có thể cô lấy thấp đi một chút vì lên nhà cô bất tiện hơn chỗ khác, nhưng vẫn hết sức phải chăng trong thời buổi này.

Tuy mới gặp, cô sẽ lạnh lùng , có lúc còn cao giọng khó tính giống mấy bà bán hàng trên phố cổ, nhưng quen rồi thì cô mềm mại hơn nhiều. Thỉnh thoảng tôi gặp chú chồng cô tròn tròn hiền hiền, thình thoảng phụ cô đo đạc hay ghi chép. “Phòng làm việc” của cô tuy nhỏ nhưng gọn gàng, sạch sẽ, chỉ thấy một ít sợi vải rơi quanh cái máy khâu của cô. Rất giống những gì tôi nhớ được về các bà các cô may vá trong những căn hộ tập thể thời bao cấp.

Chắc sau này tôi vẫn chỉ sửa quần bò ở đây. Gặp những người sống giản dị, chân phương làm tôi thoải mái. Và tôi cũng vốn nhát, quen đâu chỉ qua lại một nơi thôi.

Chị bán bánh dầy giò

Thành thói quen, khi nào muốn ăn sáng bánh dầy giò thì tôi sẽ ghé vào cái gánh nhỏ của chị. Lúc nào chị cũng ngồi ở vị trí đó, kể từ lần đầu tiên tôi mua cách đây hai năm. Chắc vì vị trí đó tốt, qua ngã ba một tí, trước trạm xe bus một tí. Có hôm xuất hiện chú xe ôm, hôm một gánh hàng khác. Cái gánh của chị gồm 2 cái thúng và một biển ghi “Cơm nắm – Bánh dầy giò” đánh chữ in hoa cẩn thận. Hôm nào mưa có thêm cái màn che bằng nilon, treo lên dây thép của hai cái thúng, vén ra được để lấy đồ, giống cái màn của bà ngoại tôi xưa. Không biết ai nghĩ ra mô hình này trước nhất, nhưng bây giờ tất cả các bà các cô bán loại quà sáng này đều copy y hệt. Có lẽ khác nhau là ở những thứ bánh bán kèm. Tôi nói có lẽ, vì tôi chỉ mua bánh của chị này, tôi quen ở đâu dễ chịu rồi thì khó bỏ. Chị bán thêm bánh khoai, bánh rán, bánh nếp, trừ bánh khoai còn toàn là thứ tôi thích.

Trên đường đi làm của tôi còn có một chị cơm nắm – dầy giò nữa, cách chị tôi quen mua vài trăm mét. Nhưng chị này chọn chỗ kém hơn, ngay trước một cái đèn đỏ, bất tiện nếu phải dừng lại giữa dòng người ùn ùn giục giã, nên tôi chưa bao giờ mua. Một lý do nữa, là trông chị này ngồi co ro, mặt đăm đăm có vẻ khổ sở. Chị tôi quen thì tươi tỉnh, nhanh nhẹn, chỉ mất 1-2 phút là bán xong cho một người, lại biết cách tách bánh, cắt giò và kẹp giò rất khéo, không phải động tay vào nên người mua có cảm giác sạch sẽ hơn (chứ tôi cũng biết thừa bây giờ cái gì ăn ngoài đường cũng bẩn). Chị còn giỏi nhận ra khách quen. Tôi cũng không hiểu được vì sao dù tôi có che khẩu trang, đi xe khác, thì dừng lại vẫn thấy chị đon đả: “Dầy giò à?”. Đúng như các cụ nói là có duyên bán hàng, chị cũng đắt khách hơn chị kia.

Tôi cũng chưa bao giờ nán lại chuyện trò gì hơn. Có những mối quan hệ mua – bán hết sức đơn giản như vậy, thế mà cũng kéo dài hơn hai năm nay. Nhìn chị ăn vận sạch sẽ giản dị, có vẻ tươi tắn, tôi nghĩ có thể chị có một ông chồng biết làm ăn và những đứa con ngoan. Không như vài người bán hàng tôi quen, trong gia đình chỉ có vợ chạy chợ kiếm tiền, chồng ở nhà chơi bời, cờ bạc, nghiện hút, mà các bà vợ vẫn cứ cam chịu cái số kiếp ấy, vẫn cứ nai lưng ra. Có một chị bán bỏng ngô trước cổng trường Khương Thượng. Ngày trước còn đi học cấp 2, cấp 3, tôi hay mua vì bỏng của chị rất ngon. Bây giờ vẫn thấy chị đứng đấy, giữa mấy chị bỏng khác, đen đúa, già nua và khắc khổ đi nhiều lắm. Không biết những chuyện gì đã xảy ra trong cuộc sống của chị.

Nhiều lúc tôi bị ngợp trong cảm giác bao nhiêu người đang đi lại trước mặt mình đây, mỗi người một cuộc đời. Nếu những gì tôi biết về những người quen sơ sơ hay những bạn bè trên facebook chỉ là phần nổi của tảng băng, thì những lời chào hỏi, những nụ cười lướt qua trên đường chỉ là những màu sắc nhỏ nhoi lóe lên của cả một số phận.

Rồi sẽ có lúc, có thể chị bánh dầy giò muốn chuyển chỗ bán và đi mất. Chắc tôi sẽ tìm được một gánh hàng khác để mua. Nhưng tôi sẽ tiếc, vì tôi thích những người như chị, để được dấu ấn dù rất nhẹ trong cuộc sống của người khác. Còn hơn những người qua đường chỉ đơn giản lướt ngang qua nhau.

Bình thường chẳng bao giờ tôi thích đánh đổi hai ngày nghỉ cuối tuần để đi cống hiến cho công ty. Nhưng kể ra đi làm thứ 7 chủ nhật cũng có cái vui riêng. Giờ giấc thoải mái hơn, có thể đến muộn về sớm một chút. Đường phố quang đãng hơn nhiều, còn tòa nhà vắng tanh luôn. Quần áo có thể lệt phệt tùy thích, nhìn mọi người rất lạ. Công ty yên tĩnh. Chỉ thấy sáng đèn và nhạc ầm ĩ ở khu vực đang lụt,

Nhất là tôi luôn cảm thấy những người trong team bị lụt gắn bó hơn sau mỗi lần đi làm thêm giờ. Lúc đó mọi người giống như một đội cùng trên một cái thuyền, một mục đích và cùng cố gắng làm cho xong. Cũng hơi có cảm giác “đồng cam cộng khổ”, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì anh em đồng chí lại chiến đấu. Đến giờ ăn trưa, chúng tôi kéo đi ăn một cái gì đó khác ngày thường, ở một nơi nào ít đến, ngồi lâu hơn ở quán cà phê, chuyện trò vơ vẩn quanh công việc, quanh cuộc sống. Đặc biệt cảm xúc nếu đi làm vào những ngày thu thế này. Một ngày gió se se và rồi bị mưa, một ngày thì nắng ngọt và gió nhiều.

Tôi nhớ đến hồi còn làm ở xưởng HAAI. Đó là thuở trẻ trâu, vừa ra trường, chưa vướng bận gia đình con cái, chúng tôi nhiệt tình làm việc rất vô tư. Ở lại làm muộn, làm xuyên đêm, nhất là trong các cuộc thi là chuyện bình thường. Anh em mở nhạc, pha trò, giờ nghỉ tập trung gặm bánh mì, nghe thầy nói chuyện kiến trúc. Những lúc như vậy tôi cảm thấy thân thiết với xưởng hơn hẳn. Và thầy lúc nào cũng là người làm việc với cường độ cao nhất, chiến đấu đến phút cuối cùng, cầu toàn chỉnh sửa từng chi tiết cho dù đang chuẩn bị copy file mang đi in. Sau mỗi lần làm việc thâu đêm suốt sáng, tôi có được cảm giác hài lòng vô cùng vì được góp phần vào những bản vẽ đã căng trên khung này.

Nói vậy thôi, thỉnh thoảng đi làm cuối tuần cho biết bình thường mình sướng thế nào thôi.