Bình thường chẳng bao giờ tôi thích đánh đổi hai ngày nghỉ cuối tuần để đi cống hiến cho công ty. Nhưng kể ra đi làm thứ 7 chủ nhật cũng có cái vui riêng. Giờ giấc thoải mái hơn, có thể đến muộn về sớm một chút. Đường phố quang đãng hơn nhiều, còn tòa nhà vắng tanh luôn. Quần áo có thể lệt phệt tùy thích, nhìn mọi người rất lạ. Công ty yên tĩnh. Chỉ thấy sáng đèn và nhạc ầm ĩ ở khu vực đang lụt,

Nhất là tôi luôn cảm thấy những người trong team bị lụt gắn bó hơn sau mỗi lần đi làm thêm giờ. Lúc đó mọi người giống như một đội cùng trên một cái thuyền, một mục đích và cùng cố gắng làm cho xong. Cũng hơi có cảm giác “đồng cam cộng khổ”, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì anh em đồng chí lại chiến đấu. Đến giờ ăn trưa, chúng tôi kéo đi ăn một cái gì đó khác ngày thường, ở một nơi nào ít đến, ngồi lâu hơn ở quán cà phê, chuyện trò vơ vẩn quanh công việc, quanh cuộc sống. Đặc biệt cảm xúc nếu đi làm vào những ngày thu thế này. Một ngày gió se se và rồi bị mưa, một ngày thì nắng ngọt và gió nhiều.

Tôi nhớ đến hồi còn làm ở xưởng HAAI. Đó là thuở trẻ trâu, vừa ra trường, chưa vướng bận gia đình con cái, chúng tôi nhiệt tình làm việc rất vô tư. Ở lại làm muộn, làm xuyên đêm, nhất là trong các cuộc thi là chuyện bình thường. Anh em mở nhạc, pha trò, giờ nghỉ tập trung gặm bánh mì, nghe thầy nói chuyện kiến trúc. Những lúc như vậy tôi cảm thấy thân thiết với xưởng hơn hẳn. Và thầy lúc nào cũng là người làm việc với cường độ cao nhất, chiến đấu đến phút cuối cùng, cầu toàn chỉnh sửa từng chi tiết cho dù đang chuẩn bị copy file mang đi in. Sau mỗi lần làm việc thâu đêm suốt sáng, tôi có được cảm giác hài lòng vô cùng vì được góp phần vào những bản vẽ đã căng trên khung này.

Nói vậy thôi, thỉnh thoảng đi làm cuối tuần cho biết bình thường mình sướng thế nào thôi.

Chúng tôi đến quán ăn mậu dịch không phải vì “say mê nung nấu” (như một cuốn sách đã viết). Vì thế hệ của tôi lớn lên vào những năm cuối của thời bao cấp, không biết đến xếp hàng hay tem phiếu, hầu như không nhớ gì cả. Những gì còn sót lại về cả một thời kì ấy với tôi chỉ là “gạo mậu dịch”, thứ gạo rất xấu, cái chăn nghèo may bằng vô số mảnh vải vụn tôi lại thấy đẹp (mà bây giờ người ta lại làm và bán khá đắt).

Thế nên giữa không gian tập trung đậm đặc bao nhiêu đồ đạc “bao cấp”, tôi không có được cảm giác bồi hồi nhớ lại kỉ niệm xưa, không thấy mỗi đồ vật gợi lên một câu chuyện, cảm giác nhìn lại cuộc sống khó khăn đã qua  mà chắc là thế hệ bố mẹ tôi sẽ cảm thấy. Chỉ là vui vui khi gặp lại những hình ảnh quen thuộc thời thơ bé. Những cái mâm nhôm, bát sắt tráng men, cái quạt cái đèn cũ,.. Lúc phát hiện ra cái bàn ăn cũng được kê trên chân máy khâu cũ mới thấy sự kì công của chủ nhà, mà tiếc là tôi không đủ kỉ niệm để hiểu hết (chỉ ước gì hồi trước mẹ có được cái máy khâu, không phải cặm cụi khâu tay cho chúng tôi nào áo nào váy).

Không biết có phải buổi tối hôm đó vui không, mà tôi thấy món gì cũng ngon. Ở đậy phục vụ những món bình thường như hàng cơm bình dân, nhưng nóng hổi và thơm ngon hơn. Món đầu tiên tôi gọi là dưa xào tóp mỡ – món ưa thích của tôi hồi bé, dễ phải gần 20 năm không ăn lại. Cơm cháy bò kho cũng ngon, thịt bò làm sốt vang là dẻ sườn với gân, giống hệt mẹ hay nấu. Rau cải thái mỏng nấu canh thịt băm nóng hổi và có vị gừng. Củ niễng xào trứng – tôi quyết định đưa món này vào thực đơn hàng ngày của nhà mình. Chân giò luộc kiểu Hà Nội thì không ngon, lại bày lá tía tô thái nhỏ – tôi chưa ăn 2 thứ này với nhau bao giờ,… Chính phần ăn uống lại khiến tôi “hoài cổ” hơn cả, vì tên gọi và hương vị các món ăn gợi nhắc đến những bữa cơm của hai cô con gái nhỏ cùng bố mẹ những ngày tháng xa xưa. Ngày ấy chúng tôi chẳng hình dung đươc bố mẹ vất vả thế nào để nấu được cho chúng tôi những bát cơm canh ngon ngọt, chẳng hiểu hết lòng mẹ đợi con về ăn cơm, bày lại thức ăn vào bát đĩa mới và đun nóng lại canh cho chúng tôi vào những ngày đông lạnh…

Bữa cơm rất dễ chịu, chắc chắn lần tới sẽ đưa các cụ lên đây. Con phố này nằm sâu và vắng vẻ. Quán nhỏ. Bảng đen viết phấn nguệch ngoạc “Bãi đỗ xe mậu dịch”. Một không khí khá phù hợp với sự nhớ nhung. Giống như lần ăn mì vằn thắn ở Mỳ Xưa, có lẽ chính sự chăm chút, có lòng của người lập ra quán ăn này là thứ khiến tôi muốn quay lại.

 

Đóa hoa Pháp

Trên chuyến tàu Lào Cai – Hà Nội, chúng tôi ở chung toa với 2 cậu bé người Pháp, bố mẹ hai bạn ở toa bên cạnh. 2 bạn này rất lịch sự, cậu anh có vẻ thanh niên hơn, chỉ giao tiếp khi cần thiết, còn cậu bé em tầm 8 – 9 tuổi luôn có vẻ quan tâm đến người khác, chăm lo cho anh đồng thời thu xếp sao cho không làm phiền đến người đi cùng là chúng tôi.

Nhưng gây ấn tượng sâu sắc nhất với tôi là cô bé em của hai bạn này. Sáng sớm hôm sau, cô bé gõ cửa vào để gọi hai anh dậy. Cô bạn nhỏ tầm 6 – 7 tuổi, tóc ngắn ngang vai, loăn xoăn màu vàng rơm, áo trắng và nụ cười sáng rỡ. Em cười chào chúng tôi, thì thầm hỏi giờ tàu, lần lượt gọi hai anh, rồi trước khi ra lại chào lần nữa, lịch sự nhưng ấm áp, không kiểu cách như mấy gia đình người Pháp bọn tôi gặp trên Sapa. Em không phải là một cô bé xinh đẹp, nhưng tươi tắn và duyên dáng,  dường như sự duyên dáng đã có sẵn trong em và cứ tỏa ánh sáng một cách tự nhiên vậy.

Khi xuống sân ga, tôi nhìn thấy em đứng cùng gia đình ở phía xa, nổi bật vì màu áo trắng, mái tóc vàng đã búi gọn lại và nụ cười vẫn nở trên môi. Nhìn em tôi cảm thấy trìu mến như bước ra đường vào một buổi sáng nắng trong.

Chú xe ôm

Có một chú xe ôm nhìn rất lập dị, hay dựng xe ở góc ngã tư Star Bowl. Chú có đôi ủng da cao gót màu vàng, quần bó màu đen, áo sơ mi luôn cắm thùng, tóc búi tó và râu dài, người gầy gò và đen nhẻm. Nhìn chú đặc biệt đến nỗi tôi không nhớ xe của chú là xe gì, hình như 82 hoặc là Wave. Chú hiền, cứ ngồi, hơi cười cười, tôi đoán chắc cũng hơi mát một chút, nhưng có vẻ là người lương thiện. Nếu nhà tôi gần đó, tôi cũng sẽ đi xe chú nếu có việc cần.

Sáng hôm qua tôi gặp chú đang trả khách ở đoạn phố gần công ty tôi. Chú cười và nói gì đó với anh khách, nhưng anh kia mặt lạnh, rút tiền ra trả, chẳng nói gì. Lúc đấy có sẵn điện thoại, nhưng cuối cùng tôi quyết định không chụp ảnh minh họa vì thấy tội tội nếu mọi người buồn cười về chú.

Có một lần, có một thằng bé con tầm 3 – 4 tuổi ngồi chơi với chú, chắc là con trai chú vì trông quần áo cũng kiểu cao bồi vậy. Tôi không khỏi tự hỏi vợ chú trông ra sao và cậu nhóc này sẽ lớn lên thế nào với ông bố khác người.

Image

Chạy theo xu hướng một tí, vì chất liệu này đẹp thật. Tuy nhiên tôi cũng dừng lại ở một cái áo rộng đi với quần jeans. Những cái áo ôm hay váy ren nhìn yêu thật nhưng quá yểu điệu với tôi.

Có những người thật kì cục. Tôi gặp một chị có đứa con bằng tuổi Sao Nhỏ, gặp nhau dưới sân chung cư, ngồi nói chuyện bâng quơ với tôi trong khi hai đứa nhỏ chạy đi chơi. Có vỏn vẹn chưa đầy nửa tiếng mà chị đã kịp kể cho tôi nhà cửa thế nào, chồng là thủ trưởng quân đội thế nào, con lớn con bé giỏi thế nào. Gần như độc thoại. Trước đây tôi rất khó chịu, dần gặp nhiều thì thấy thương hại những người quanh quẩn cái ao mà nghĩ mình to lắm. Giờ thì chỉ là mất hứng, không muốn nói chuyện tiếp.

Những người như vậy làm tôi rất mệt mỏi nếu phải tiếp xúc. Họ chỉ biết mình, biết gia đình mình. Cứ như là bệnh vậy. Nếu họ hỏi mình một câu, thì chỉ chăm chăm chờ người ta nói xong để khoe tiếp, không hề lọt tai câu trả lời của người đối thoại.

Đấy là những người may mắn có thứ để khoe. Có người thì chỉ kêu ca, phàn nàn về cuộc sống. Như là họ kêu nhiều thế họ sẽ bớt khổ. Kêu đến nỗi mình tối tăm mặt mũi.

Có một điểm chung giữa hai kiểu người chỉ nói chuyện một chiều trên. Họ không biết lắng nghe. Họ quá quan tâm đến bản thân và muốn khoe ra hoặc trút nỗi niềm lên người khác nên không có thời gian nghĩ đến cảm xúc của người đối diện. Mà có khi ngồi một mình họ cũng chẳng có thời gian.

Image

Không chỉ đơn giản là màu xanh lam. Dù giữ yên trên tay, vẫn thấy loé lên nhiều ánh sáng khác, nhất là màu xanh lục ưa thích của tôi.

Người tập đi

Nếu sáng đi làm đúng giờ, thì khi qua cổng rạp xiếc, tôi hay nhìn thấy chú. Lúc nào cũng là những chi tiết ấy: cởi trần, đánh mỗi cái quần soóc, tóc bạc trắng húi rất ngắn, và cái nạng tập đi bên chân phải– loại nạng tự đứng được, đi ngược chiều với tôi. Chú gầy gầy, mặt có lẽ trẻ hơn so với màu trắng của tóc, và tập trung bước đi. Không lần nào tôi nhìn kỹ chú vì lúc nào cũng vội phóng xe. Nhưng tôi thấy chú tập trung vào việc bước đi mà gương mặt lại nhẹ nhõm, không có vẻ khổ sở.

Sáng nay tôi lại đi ngang qua chú. Từ khi chuyển chỗ làm, đi trên đoạn đường này, nếu đi đúng giờ, tôi hay thấy chú. Nghĩa là 2 năm rồi, trời nóng hay lạnh, chú vẫn tập từng bước một các buổi sáng. Hai năm trước, tôi nghĩ chú đang trong giai đoạn tập luyện để phục hồi, và dần dần chú sẽ đi tốt hơn. Nhưng hôm nay trông chú bước đi vất vả hơn, chậm hơn, dáng còng hơn một chút. Tôi thấy chạnh lòng vì tôi mong nhìn thấy những người như chú đạt được kết quả xứng đáng với nghị lực đã bỏ ra.

Nhà mới vừa mất điện, 3 đứa sơ tán sang nhà ông bà 2 đêm. Mặc dù ông bà nhường cho giường êm, điều hòa, nhưng tôi vẫn trằn trọc ngủ không ngon. Nhớ nhà quá. Sáng ra chạy về để dọn dẹp hay tha đồ qua lại, tôi nhìn cái bếp lạnh ngắt mà thấy buồn thiu, mấy bữa liền không được nấu nướng ở đấy, cửa sổ không mở, cái sofa vắng vẻ chẳng có cái ô tô nào. Tối qua có điện, tôi về nằm ngủ thin thít. Hôm nay được cho quần áo vào máy giặt và được quét nhà, rồi tranh thủ ngồi ôm cuốn sách đang đọc dở một lúc thấy sao mà sung sướng.